Một số trang phục truyền thống của Việt Nam

(Thứ 5, 03/04/2014 - 16:28)

(hanoinay) - Trang phục thể hiện nét văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền cũng như tính cách, phong thái của mỗi người. Theo dòng thời gian trang phục truyền thống của người Việt có những biến đổi nhất định, nhưng cho dù có biến đổi sao thì mỗi khi nhìn thấy chiếc áo dài hay áo bà ba cùng đôi guốc mộc ta như cảm thấy cái hồn người Việt phảng phất đâu đây. Vietnamnay xin gửi đến bạn một số lời tản mạn về những bộ trang phục truyền thống của người Việt – mang hồn dân tộc.

Áo dài Việt Nam

Áo dài Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc, được kế thừa một cách sáng tạo vẻ đẹp của chiếc áo tứ thân của người Kinh, áo dài của người Chăm, Tày, Nùng... Những năm gần đây, áo dài được thời trang hóa với nhiều cách tân. Một số nhà tạo mẫu đã kết hợp nét văn hóa dân tộc với yếu tố thời trang hiện đại, tạo nên nét độc đáo của tà áo dài dân tộc...
Áo tứ thân - áo dài cổ truyền của người Kinh là yếu tố cội nguồn của áo dài ngày nay. Hình ảnh những cô gái mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ với chiếc đòn gánh đầu cong vút, gánh rau, gánh hoa dọc khắp phố phường Hà Nội nay chỉ còn thấy trong sách vở, trên các bức ảnh, trên sân khấu hay trong các kỳ hội làng. Có lẽ, vì khổ vải của ta xưa thường hẹp nên chiếc áo tứ thân được may bằng bốn mảnh. Nét đặc trưng là áo không có khuy cài, hai thân trước tạo thành hai vạt, có thể buộc thắt ngang eo. Phía trong áo dài là chiếc yếm hoặc tấm áo cánh, phía dưới là váy hoặc quần đen. Trong những dịp lễ hội long trọng, phụ nữ mặc áo tứ thân theo kiểu mớ ba, mớ bảy, tức là cùng một lúc mặc ba hoặc bảy cái áo lồng vào nhau, mỗi cái một màu. Đây là nghệ thuật làm dáng kín đáo của phụ nữ người Kinh. Những tà áo nhiều màu trông như những mảng màu sắc phất phơ...
Đầu thế kỷ XX, ở thành thị bắt đầu phổ biến kiểu áo dài gần giống áo dài ngày nay nhưng rất rộng và không có eo, với quan niệm lấy sự kín đáo tinh tế làm chủ yếu. Kiểu áo này bắt nguồn từ chiếc áo dài của người Việt ở Đàng trong thời xưa, đặc điểm chính là cách cài khuy chéo từ cổ vắt qua nách rồi xuôi theo vạt sườn bên phải, phía trước là tà áo khép kín chứ không xẻ như áo tứ thân, áo này mặc với quần. Bộ cánh Đàng trong này tuy có liên quan đến yếu tố cội nguồn ở Đàng ngoài nhưng nó cũng chịu sự tác động mạnh của chiếc áo dài người Chăm và trang phục của người Minh Hương (Trung Quốc). Những năm 30 của thế kỷ trước, văn hóa Tây phương du nhập, phong trào "vui vẻ trẻ trung" tạo nên nhu cầu và thẩm mỹ mới cho người dân. Làn sóng cách tân áo dài mạnh mẽ từ những năm 30 là sự tiếp nối của áo dài thành thị. Nổi bật là sự đóng góp đầy ấn tượng của họa sỹ (đồng thời là ông chủ hiệu may) Cát Tường với chiếc áo dài Lemur. Tuy vậy, mẫu áo dài có tay bồng, cổ lá sen, cổ thuyền, cổ trái tim... đã gây tranh luận gay gắt lúc đương thời. Cải tiến đáng ghi nhận của chiếc áo này là những nếp gấp (chiết ly) ở eo và ở ngực làm cho chiếc áo dài trở nên gợi cảm và duyên dáng hơn, tôn vẻ đẹp nữ tính theo quan niệm thẩm mỹ phương Tây.
Vẻ đẹp của chiếc áo dài còn thể hiện ở sự kết hợp hài hòa của nó với vóc dáng nhỏ nhắn và dáng vẻ mềm mại, uyển chuyển của người phụ nữ Việt Nam. Kiểu áo được ưa chuộng hiện nay nhất là kiểu cổ cứng, cao; áo được may gọn bó sát thân với đường xẻ tà hai bên sườn cao... Quyến rũ mà kín đáo, đoan trang, thể hiện tính hiện đại nhưng vẫn duy trì được bản sắc dân tộc. Áo dài Việt Nam cũng thường được nhận giải thưởng Trang phục dân tộc đẹp nhất trong các cuộc thi người đẹp quốc tế. Thế giới biết đến thời trang Việt Nam qua áo dài. Biết bao giải thưởng quốc tế lớn về thời trang dành cho Việt Nam cũng nhờ chiếc áo dài...
Áo dài đang có những bước cách tân, gắn liền với sự phát triển của công nghệ thời trang Việt Nam. Các nhà thiết kế thời trang đã kết hợp hài hòa giữa yếu tố thời trang hiện đại với tính dân tộc. Có những mẫu áo là bước đột phá khi vừa đưa được nét cổ điển của chiếc áo tứ thân khi từ bỏ hàng khuy bên sườn và đưa vào giữa; vừa kết hợp đưa vào đó những yếu tố đa dạng về sắc tộc như hàng khuy bạc của người Thái, những hoa văn của người Mường, người Tây Nguyên; lại có những đường nét hiện đại Tây phương như áo váy dạ hội... Những cách tân ấy chỉ là những sự biến đổi về chi tiết, còn chiếc áo dài thời trang vẫn mang hình dáng của chiếc áo dài 70 năm về trước. Quá khứ kết hợp nhuần nhuyễn với hiện tại để chiếc áo dài mãi xưa mà vẫn mới, truyền thống mà vẫn hiện đại...

 vietnamnay.com mot-so-trang-phuc-truyen-thong-cua-viet-nam-default

Áo bà ba
Không biết tự bao giờ, nhắc đến áo bà ba người ta nghĩ ngay đến vẻ đẹp thuần hậu, mộc mạc, dịu dàng của người phụ nữ Nam Bộ.
Ngược dòng lịch sử, trở về thưở sơ khai của mảnh đất Nam Bộ cũng là tìm về gốc tích của chiếc áo bà ba. Không như người Bắc mặc váy, yếm, hay áo tứ thân... bộ y phục thường ngày của người Nam Bộ thế kỷ XVIII là áo ngắn và quần dài. Về sau đến thế kỷ XIX đã có sự cải tiến quan trọng cho bộ y phục ban đầu ấy thành bộ y phục thông dụng là bộ bà ba. Nhưng cũng có người lại cho rằng bộ bà ba Nam Bộ phỏng theo y phục của các nước lân cận nhờ quá trình giao lưu văn hoá. Cụ thể hơn đó là kiểu trang phục của người "Baba"- một nhóm người Hoa sống trên đảo Pinang thuộc Malaysia ngày nay. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng dù xuất xứ như thế nào thì bộ bà ba đen, khăn rằn và nón lá đã kết hợp với nhau trở thành nét biểu trưng đặc sắc cho vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp văn hoá của người phụ nữ Nam Bộ nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung.
Áo bà ba vốn là áo không cổ. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống. Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Độ dài của áo chỉ trùm qua mông, gần như bó sát thân. Áo kết hợp với chiếc quần đen dài chấm cổ chân hoặc gót chân đã làm đẹp thêm vóc dáng của người phụ nữ với chiếc lưng ong nhẹ nhàng, thanh thoát, mềm mại.
Nếu so với các trang phục truyền thống trong và ngoài nước thì có lẽ áo bà ba Nam Bộ là bộ trang phục đơn giản nhất. Sự khiêm tốn này phù hợp với quan điểm sống của người Việt luôn đề cao sự giản dị, nền nã. Ngày nay ta có thể thấy những người con gái Nam Bộ đảm đang khi ra đồng, mềm mại trên những chuyến đò, thấp thoáng bên những rặng dừa, gió tung tà áo trên những chiếc cầu tre lắt lẻo...
Áo bà ba là biểu tượng, là kết tinh của quê hương xứ sở, là hồn Việt trải qua mấy trăm năm kể từ khi cha ông ta khai phá mảnh đất phương Nam, nhưng ngày nay những sắc màu dung dị ấy đang mai một dần đi. Cổ tròn, cổ tim hoặc cổ thìa vốn là đặc trưng của áo bà ba nhưng dưới bàn tay biến tấu của các nhà thiết kế hoặc do sở thích cá nhân, cổ áo khi thấp, khi cao, khi trễ nải, lúc hình vuông, hình lá, lúc khoét rộng hở hang. Độ dài rộng ngắn hẹp của áo thì tuỳ thích. Ta biết đặc điểm của miền đất Nam Bộ là nhiều kênh rạch sông nước, thừa nắng gió nên phải chít eo và xẻ tà thấp thôi để nắng gió sông nước chỉ đủ làm tung nhẹ tà áo mà không làm mất đi vẻ e ấp kín đáo của người phụ nữ... Nhưng giờ đây người ta chít eo cao lên, vạt áo xẻ thật dài, thật cao gần về phía nách…
Y phục xưa thường nhuộm màu đen, màu nâu, bằng lá bàng, vỏ cây đà, cây cóc hoặc trái dưa nưa. Từ một bộ bà ba đen ban đầu, theo thời gian, sở thích và nếp sinh hoạt thay đổi dần dần nó được hoàn thiện thêm với đủ các cung bậc trầm bổng của màu sắc, hoạ tiết, hoa văn. Nhiều nhà thiết kế, nhà tạo mẫu có tâm huyết, muốn kế thừa và phát huy truyền thống của trang phục đã có những cải tiến, phá cách thành công để áo bà ba không những sống trong đời sống hàng ngày mà nó còn sống trên sân khấu thời trang, hoà nhịp cùng tiết điệu của cuộc sống hiện đại cùng bạn bè năm châu. Nhưng lại cũng có không ít mẫu mang những kiểu dáng, pha lẫn hoạ tiết, màu sắc, được cải biến một cách tuỳ tiện nếu không muốn nói là lố lăng, làm giảm thậm chí mất đi cái đẹp tự thân của bộ bà ba truyền thống, hình ảnh bộ bà ba đen nguyên sơ dân dã trở nên nhiều hình nhiều vẻ, loè loẹt sắc màu, thêu thùa hoa lá rồng phượng... Khí hậu Nam bộ nóng nắng quanh năm nên áo được may bằng chất liệu mềm, mát, thanh mảnh, nay được may bằng gấm bằng nhung…

Đôi guốc của người Việt Nam

Theo sử sách, đôi guốc đã xuất hiện ở Việt Nam khá sớm. Các sách cổ ở Trung Quốc như Nam Việt chí, Giao Châu ký có ghi rằng Bà Triệu (ở thế kỷ 3) đi guốc bằng ngà voi.

Ngày trước ở nông thôn, vào những ngày giá rét, phụ nữ và đàn ông khi đi dự hội hè đình đám thường đi guốc gộc tre. Guốc đi trong nhà được đẽo bằng gỗ, có mũi uốn cong cong bảo vệ các ngón chân, quai dọc tết bằng mây chứ không phải bằng da đóng ngang như kiểu guốc thời cận đại. Guốc phụ nữ hơi eo ở giữa, còn guốc của nam giới không eo nên còn được gọi là guốc xuồng. Guốc sản xuất ở Phú Yên không sơn, giữ nguyên màu trắng của gỗ, thường là cây lòng mực. Còn guốc ở Huế hoặc sơn đều một màu hoặc sơn hai màu (thường là màu đen và màu nâu), phía lòng bàn chân là một hình tam giác màu nhạt hơn. Chỉ những người khá giả mới đi guốc sơn. Một số nơi gọi guốc là đỏn nên đã có thành ngữ “chân giày chân đỏn” chỉ sự giàu có, sang diện.

Đến năm 1940, học trò nam trường công ở tỉnh Bến Tre mặc bộ bà ba trắng, chân đi guốc. Trước cách mạng tháng tám năm 1945, guốc sản xuất ở Kinh đô Huế gọi là guốc Kinh. Đây là loại guốc có đế bằng dừa hay gỗ nhẹ, sơn trắng, mũi thêu kim tuyến. Ở Hà Nội có kiểu guốc phi mã, đế cao, dùng cho phụ nữ. Vào những năm 50-60 của thế kỷ trước người ta đem guốc mộc sản xuất ở làng Đơ Đồng, tức Yên Xá (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội), ở Kẻ Giày (xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, Hà Tây) về số nhà 12 phố Hàng Gà, hay về phố Bạch Mai ở Hà Nội để sơn, xì hoa, sau đó đem bán. Vào cuối những năm 70, bên cạnh guốc gỗ, guốc nhựa đã ra đời. Cùng giày dép, chức năng chủ yếu của đôi guốc là vật phục sức ở chân. Nếu như chiếc nón, chiếc yếm là những vật gợi hứng cho hồn thơ dân gian, là mặt trong nhiều lời ca dao thì đôi guốc hầu như bị thi sĩ dân gian lãng quên.

Chiếc nón Việt Nam

Nón Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh của chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh cách đây 2.500-3.000 năm. Từ xưa, nón đã hiện diện trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam, trong công cuộc dựng nước, giữ nước, qua nhiều câu chuyện kể...
Theo sự phát triển của lịch sử, nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt, nón được tết đan. Loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải chờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 TCN).
Trước kia người ta phân nón cổ thành 3 loại: nón mười (nón ba tầm), nón nhỡ và nón đấu. Nhìn chung nón cổ vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Nón ba tầm có vành rộng, phụ nữ thời xưa thường đội đi chơi hội hay lên chùa. Nón đấu là loại nhỏ và đường viền thành vòng quanh cũng thấp. Trước kia người ta còn phân loại nón theo đẳng cấp của người dùng nón. Có loại nón dành cho nhà giàu và nhà quan, nón dành ông già, nón trẻ em, nón lính tráng, nón nhà sư...

vietnamnay.com mot-so-trang-phuc-truyen-thong-cua-viet-nam-default


Ở Việt Nam, cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều có những vùng làm nón nổi tiếng và mỗi loại nón ở từng địa phương đều mang sắc thái riêng. Nón Lai Châu của đồng bào Thái; nón Cao Bằng của đồng bào Tày sơn đỏ; nón Thanh Hoá có 16-20 vành; nón Ba Ồn (Quảng Bình) mỏng nhẹ và dáng thanh thoát; nón Gò Găng (Bình Định); nón Huế nhẹ nhàng, thanh mỏng nhờ lót bằng lá mỏng; nón làng Chuông (Thanh Oai, Hà Tây) là loại nón bền đẹp vào loại nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nguyên liệu làm nón không phức tạp. Muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang, dùng sợi nón - một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) và tre. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh răn reo, được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đã đốt nóng, đặt lá lên, dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị ròn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại răn như cũ. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng thời tránh mốc.
Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt, dùng làm vòng nón. Nón Chuông có 16 lớp vòng, tạo cho nón Chuông dáng thanh tú, không quá cũn cỡn, không xùm xụp. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Vòng tre được đặt lên khuôn sẵn, lá xếp lên khuôn xong là đến công việc của người khâu. Những mũi kim khâu đều như đo. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được giấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Sợi móc len theo từng mũi kim qua 16 lớp vòng thì chiếc nón thành hình. Các cô gái làng Chuông thường trang trí thêm cho chiếc nón trở nên hấp dẫn. Đơn giản nhất là họ dán vào lòng nón những hình hoa lá bằng giấy nhiều màu sắc được in sẵn và bán ở các phiên chợ. Tinh tế hơn, các cô còn dùng chỉ màu khâu giăng mắc ở hai điểm đối diện trong lòng nón để buộc quai nón bằng những dải lụa mềm mại, đủ màu sắc, tôn thêm vẻ đẹp của khuôn mặt các cô gái dưới vành nón.
Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Công phu nhất là vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được.
Chiếc nón được làm ra để che mưa, che nắng nhưng công dụng của nó không dừng lại ở đấy, nó đã trở thành một phần cuộc sống của người Việt Nam. Trên đường xa nắng gắt hay những phút nghỉ ngơi khi làm đồng, ngồi bên rặng tre, các bà các cô có thể dùng nón quạt cho ráo mồ hôi. Bên giếng nước trong, giữa cơn khát cháy cổ, nón có thể thay chiếc chậu vục nước mà áp mặt vào đó giải bớt nhiệt. Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái người Kinh với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của phụ nữ Việt Nam. Với khúc hát quan họ Bắc Ninh, chàng trai và cô gái hát đối giao duyên, cô gái bao giờ cũng cầm trên tay chiếc nón ba tầm, nó giúp cô giấu khuôn mặt ửng hồng của mình khi chàng trai hát những lời bóng gió xa xôi về tình cảm của chàng, hoặc khi cô muốn kín đáo ngắm khuôn mặt bạn tình của mình mà không muốn để chàng biết. Nón chính là biểu tượng của Việt Nam, là đồ vật truyền thống và phổ biến trên khắp mọi miền đất nước. Nếu ở một nơi xa xôi nào đó không phải trên đất Việt Nam, bạn bỗng thấy chiếc nón trắng, đó chính là tín hiệu Việt Nam.

 

VIETNAMNAY.COM Tổng hợp